Hình 13

Mở tủy và định vị ống tủy

Đây là một trong các Newsletter trình bày kiến thức cơ bản nội nha lâm sàng của American Association of Endodontists. Nha.si sẽ mang tới cho bạn 3 newsletter hữu ích: Mở tủy và định vị ống tủy, Các dung dịch bơm rửa ống tủy và Hàn tủy.

 Tam giác nội nha bao gồm sửa soạn cơ sinh học, kiểm soát vi khuẩn và hàn kín không gian ống tủy là nền tảng của điều trị nội nha (1). Tuy nhiên, trừ khi tiếp cận được miệng ống tủy và lỗ mở chóp chân răng đúng, để đạt được mục tiêu của tam giác nội nha là điều khó khăn và tiêu tốn thời gian. Mục đích cuối cùng của điều trị nội nha là tạo ra một môi trường để cơ thể có thể tự lành thương. Mở tủy đúng cách là chìa khóa để đạt được điều này và do đó là chìa khóa để thành công trong điều trị nội nha. Mục tiêu của newsletter này giúp các nha sĩ tăng thêm hiểu biết về cách mở tủy và tìm miệng ống tủy. Để làm được điều đó, một phương pháp hệ thống để tiếp cận được phức hợp tủy và định vị miệng ống tủy được trình bày sau đây.
Khái niệm chung
 Phức hợp tủy phải được hiểu là hệ thống liên tục bắt đầu từ mặt nhai ở sừng tủy tới điểm kết thúc ở lỗ chóp chân răng (1). Để lấy bỏ toàn bộ mô tủy từ phức hợp tủy, 1/3 trên của phức hợp phải được mở để cho phép lấy sạch tủy, đơn giản hóa việc định vị và mở rộng ống tủy mà không làm tổn thương tới men răng và ngà răng ở 1/3 trên.
Quá trình làm sạch và tạo hình phức hợp tủy này có thể chia thành 4 giai đoạn: đánh giá trước khi mở, lấy sạch trần buồng tủy, xác định buồng tủy và lỗ ống tủy trên sàn tủy, tạo hình ống tủy.
Đánh giá trước khi mở tủy
 Lấy bỏ mô tủy bắt đầu bằng việc đánh giá cấu trúc giải phẫu của răng cần điều trị và giải phẫu của các mô xung quanh.
 Để lấy bỏ toàn bộ các thành phần trong hệ thống ống tủy, phải xác định được 1/3 trên, buồng tủy và tủy phụ (radicular pulp). Theo Krasner và Rankow (2), buồng tủy của mỗi răng ở trung tâm của răng ngang mức đường nối men-cement; được gọi là “Quy luật trung tâm”. Hình 1a và 1b thể hiện tính hợp lý của quy luật này.
                                                                        mở tủy, định vị ống tủymở tủy, định vị ống tủy
Hình 1a (trái) và Hình 1b (phải): Các mẫu cắt cho thấy Quy luật trung tâm.
 Quy luật trung tâm có thể sử dụng làm hướng dẫn trong việc bắt đầu mở tủy. Tuy nhiên, nha sĩ hiểu giới hạn của quy luật này chỉ đúng khi áp dụng ngang mức đường nối men-cement và không liên quan tới giải phẫu mặt nhai (2).
 Khi chúng ta nắm được buồng tủy thường ở trung tâm của răng ở ngang mức đường nối men-cement, mũi khoan mở vào ban đầu phải hướng trực tiếp tới trung tâm của đường nối men-cement. Do đó, theo phương pháp phản trực giác, mở tủy phải được bắt đầu bằng cách lờ đi thân răng hoặc chụp răng trên lâm sàng và xem xét tới đường đường nối men-cement tưởng tượng (2). Trong hình 2, chụp phục hình có thể hướng dẫn bác sĩ sai vì cấu trúc giải phẫu của chụp không phải lúc nào cũng ở trung tâm đường nối men-cement.
  mở tủy, định vị ống tủy
Hình 2: Vị trí của đường nối men-cement không liên quan tới chụp răng quá lớn.
 
Bước 1
 Bước đầu tiên trong việc mở tủy bất cứ răng nào bắt đầu từ việc xác định hình dáng và vị trí của đường nối men-cement một cách cơ học. Có thể làm được điều này bằng các sử dụng cây thăm (sonde) nha chu bộc lộ hoàn toàn chu vi của đường nối men-cement để mường tượng ra được phạm vi của nó như trong hình 3a-d.
                      Hình 3a Hình 3b Hình 3c Hình 3d
Hình 3a-3d (từ trái qua): Thăm khám nha chu để định vị đường nối men-cement.
 Một khi  quan sát được đường nối men-cement có thể chọn một điểm vào mở tủy trên bề mặt nhai. Trên bề mặt đã được phục hình, điểm này có thể không liên quan tới cấu trúc giải phẫu mặt nhai hiện có. Có thể thấy trên hình 3e, điểm vào mở tủy đúng trên mặt nhai được chỉ điểm bằng vòng tròn xanh. Điểm này được quyết định bằng phim Xquang, thăm nha chu và hình ảnh chu vi của đường nối men-cement mường tượng.
Hình 3e
Hình 3e: Vị trí của điểm bắt đầu mở vào dựa trên chu vi đường nối men-cement.
 Việc quan sát được đường viền tận cùng của buồng tủy có thể được trợ giúp bằng cách sử dụng luật khác của giải phẫu buồng tủy đó là “Quy luật đồng tâm” (2). Quy luật này phát biểu rằng “Các thành của buồng tủy đồng tâm với đường viền ngoài của răng ngang mức đường nối men-cement”. Quy luật đồng tâm được minh họa ở hình 4.
 Quy luật đồng tâm sẽ giúp nha sĩ mở rộng phần mở tủy đúng mức. Nếu có chỗ phồng ra ở đường nối men-cement ở bất cứ hướng nào thì buồng tủy cũng sẽ mở rộng theo hướng đó. Ví dụ, nếu răng hẹp theo hướng gần xa, nha sĩ sẽ thấy buồng tủy hẹp theo chiều gần xa, như được thấy ở trên Hình 5a và 5b.
                                                  Hình 4 Hình 5a Hình 5b
Hình 4,5a,5b (từ trái qua): Các mẫu cắt cho thấy Quy luật đồng tâm.
 Bước 2
 Bước thứ 2 là xác định góc độ của răng. Điều này có thể thực hiện bằng cách sử dụng phim Xquang (Hình 6) và quan sát lâm sàng. Phim cắt lớp cone beam (cone beam tomography) có thể trợ giúp trong việc xác định theo chiều ngoài-trong.
Hình 6
Hình 6: Quyết định góc độ của răng bằng phim Xquang. Lưu ý răng hàm lớn thứ hai hàm trên di gần.
 Bước 3
 Bước thứ 3, thấy được ở Hình 7, là đo đạc trên phim Xquang khoảng cách từ đỉnh múi tới chẽ răng. Một khi khoảng cách đỉnh múi-sàn tủy (cusp tip-pulp floor distance CPFD) được xác định, mũi khoan được đánh dấu ngắn hơn chiều dài này, do đó có thể phòng tránh được khoan thủng vùng chẽ.
 Nếu mũi khoan được hướng thẳng tới trung tâm đường nối men-cement, song song với trục dọc của răng và ngắn hơn vùng chẽ, việc khoan thủng buồng tủy sẽ không xảy ra (3).
Hình 7
Hình 7: Đo khoảng cách mặt nhai-chẽ.
 Bước 4
 Điểm vào mở tủy ban đầu trên mặt nhai có thể được lựa chọn nhờ xác định chu vi xung quanh đường nối men-cement, góc độ theo chiều dọc của răng và CPFD. Do đó, điểm mở vào trên mặt nhai của răng đa dạng và phụ thuộc hoàn toàn vào tất cả những yếu tố này. Tất cả khuyến cáo về bắt đầu tại một điểm nhất định trên bề mặt nhai như liên quan tới hố hoặc rãnh có thể hướng dẫn sai. Trong một số tình huống kì quái, điểm bắt đầu mở tủy thậm chí có thể ở múi răng. Quan niệm cơ sở ở đây là: cấu trúc giải phẫu bên trong của buồng tủy có ảnh hưởng tới cấu trúc đường viền ngoài cùng. Câu trúc đường viền có thể hình tam giác, hình thang hoặc bất thường.
 
Kĩ thuật mở tủy
Bước 1: Trước khi bắt đầu phần cơ học của mở tủy, tất cả các phục hình khiếm khuyết và sâu răng cần được loại bỏ. Để một phục hình bị rò hoặc sâu răng có thể gây nhiễm khuẩn trong suốt quá trình điều trị.
Bước 2: Hình dáng và dạng mũi khoan có thể sử dụng hoàn toàn phụ thuộc vào nha sĩ. Một mũi khoang carbide cỡ #4 hoặc mũi kim cương tròn hoặc mũi trụ có rãnh #557 được sử dụng phổ biến. Mũi khoan kim loại có rãnh đặc biệt sẵn có dùng cho chụp răng phục hình. Dù chọn mũi khoan nào đều phải đi từ mặt nhai tại điểm đã quyết định trước đó nhờ các yếu tố trước mở tủy (chu vi đường nối men-cement, góc độ răng, CPFD). Mũi khoan phải hướng tới trung tâm đường nối men-cement mường tượng cho tới khi cảm giác hụt mũi khoan hoặc đầu của tay khoan chạm vào múi. Tuy nhiên cần lưu ý: cảm giác hụt mũi khoan chỉ có thể cảm nhận được khi buồng tủy sâu ít nhất 2mm.
 Khi đánh giá một răng có thể điều trị hay chuyển chuyên gia, khoảng cách trần buồng tủy tới sàn tủy ảnh hưởng tới quyết định này. Những răng có xuất hiện buồng tủy bị canxi hóa như trên Hình 8 phải được cân nhắc chuyển chuyên gia.
Hình 8
Hình 8: Phim Xquang của các ống tủy răng hàm lớn bị canxi hóa.
Bước 3:
 Mục tiêu của mỗi lần mở tủy đó là lấy bỏ toàn bộ trần buồng tủy (4). Cho tới khi trần tủy hoàn toàn được loại bỏ, cần quyết định tỉnh táo để tránh việc tìm kiếm miệng ống tủy vì có nguy cơ lớn phạm sàn hoặc thành tủy gây ra thủng. Miệng ống tủy sẽ được bộc lộ một khi trần tủy được lấy bỏ và mở tủy hoàn tất. Điều này có thể thấy trong bài viết “The access box: an Ah-ha phenomenon” (5).
 Hai cách để lấy bỏ trần buồng tủy là đặt mũi khoang thẳng và di chuyển mũi khoan theo chiều ngang trong khi giữ nó song song với trục dọc của răng, hoặc đặt mũi khoan tròn vào vị trí mở tủy khớp theo chiều ngang dưới phần nhô ra ở bên còn lại và sau đó kéo mũi khoan theo hướng mặt nhai, được minh họa ở Hình 9.
                                   Hình 9a Hình 9b Hình 9c
 Hình 9a-9c (từ trái qua): Sử dụng các mũi khoan khác nhau để lấy bỏ trần buồng tủy.
 Trần tủy phải được mài dũa cho tới khi lỗ mở tủy được hoàn thiện.
 Một trong những bước khó nhất trong suốt bước này đó là quyết định khi nào mở tủy đủ. Để biết khi nào mở tủy đủ, nha sĩ cần biết một quy luật nữa, Quy luật thay đổi màu (2). Quy luật này cho biết màu của buồng tủy thường tối hơn thành tủy xung quanh. Quy luật thay đổi màu cung cấp hướng dẫn để quyết định khi nào mở tủy đủ. Vì thành tủy sáng hơn, có một đường nối giữa thành tủy sáng hơn gặp sàn tủy tối hơn. Đường nối sàn-thành tủy được thể hiện ở Hình 10, đi ngang qua toàn bộ sàn tủy.
Hình 10
Hình 10: Mẫu cắt cho thấy đường nối sàn-thành.
 Nha sĩ biết mở tủy hoàn tất khi thấy được đường nối sàn – thành 360 độ xung quanh sàn tủy như trên Hình 11.
Hình 11
Hình 11: Mẫu cắt cho thấy mở tủy hoàn thiện.
  Đường nối sáng-tối dễ thấy thường xuất hiện, nếu không thấy đường nối này ở một phần của sàn tủy, nha sĩ biết còn những cấu trúc bên dưới cần lấy bỏ. Cấu trúc này có thể là vật liệu phục hình, ngà bồi đắp hoặc trần buồng tủy bên dưới. Điều trở ngại này và việc nhìn thấy hoàn toàn các thành tủy có thể thấy được ở Hình 12. Nhận diện rõ ràng đường nối sàn-thành là khía cạnh quan trọng nhất của pha mở tủy trong điều trị nội nha.
Hình 12
Hình 12: Một ví dụ về mở tủy chưa đủ.
 Nếu không thể thực hiện được điều này, ca này phải được chuyển cho chuyên gia. Hình 12 là một ví dụ mở tủy chưa đủ. Chú ý bạn không thể nhìn thấy sàn gặp thành tủy khi nhìn xung quanh 360 độ.
 Hình 13 minh họa mở tủy hoàn thiện. Lưu ý các thành tủy có vẻ gặp sàn tủy xung quanh toàn bộ chu vi của buồng tủy. 
Hình 13
Hình 13: Một ví dụ về mở tủy đủ.
Định vị miệng ống tủy
 Số lượng miệng ống tủy ở mỗi răng riêng biệt không thể biết trước khi bắt đầu điều trị. Mặc dù phim Xquang hữu ích và thỉnh thoảng chỉ ra số lượng chân răng, số lượng trung bình cũng được liệt kê (6,7,8,9), hầu hết các ca số lượng hoặc vị trí của miệng ống tủy không thể xác định.
 Vậy làm thế nào một nha sĩ có thể quyết định chính xác số lượng ống tủy ở một răng mà không gây nên phá hủy răng trong điều trị? Cách duy nhất hiệu quả và an toàn đó là quan sát toàn bộ phần mở rộng của sàn buồng tủy và dùng các điểm mốc giải phẫu đa dạng.
 Ở bài viết trước (2) có thể hiện một nhóm các quy luật có thể sử dụng để xác định các miệng ống tủy ở đâu trong sàn tủy, đó là:
 Luật đối xứng 1:  Trừ răng hàm lớn hàm trên, miệng của ống tủy cách đều từ đường thẳng vẽ theo hướng gần-xa qua trung tâm của sàn buồng tủy (Hình 14).
Hình 14
Hình 14: Hình vẽ minh họa Luật đối xứng 1.
 Luật đối xứng 2: Trừ răng hàm lớn hàn trên, miệng của ống tủy nằm trên đường nối vuông góc với đường thẳng vẽ theo hướng gần-xa qua trung tâm của sàn buồng tủy (Hình 15).
Hình 15
Hình 15: Hình vẽ minh họa Luật đối xứng 2.
Luật thay đổi màu sắc: Màu của sàn buồng tủy luôn luôn đậm màu hơn thành tủy (Hình 16a và 16b).
                                                            Hình 16a Hình 16b
Hình 16a, 16b (từ trái qua): Ví dụ về quy luật đổi màu.
Luật định vị miệng ống tủy 1: Miệng ống tủy luôn nằm ở đường nối giữa các thành và sàn tủy (Hình 17).
Hình 17
Hình 17: Hình minh họa về luật định vị miệng ống tủy 1.
Luật định vị miệng ống tủy 2: Miệng ống tủy nằm ở góc của đường nối sàn-thành (Hình 18). Sau khi nhìn thấy rõ ràng đường nối sàn-thành, tất cả các Luật đối xứng và định vị miệng ống tủy có thể sử dụng để xác định vị trí chính xác và số lượng miệng ống tủy.
Hình 18
Hình 18: Hình minh họa về luật định vị miệng ống tủy 2.
 Nhìn vào vị trí của miệng ống tủy ở sàn buồng tủy trong hình 19. Nắm được Luật đối xứng 1 và 2 ngay lập tức chỉ ra được sự xuất hiện của miệng ống tủy thứ 4. Quả thực, các quy luật này không những gợi ý về sự có mặt của ống tủy thứ 4 mà còn chỉ ra vị trí chính xác của miệng ống tủy.
Hình 19
Hình 19: Định vị miệng ống tủy sử dụng các luật đối xứng.
 Luật định vị miệng ống tủy 1 và 2 có thể sử dụng để xác định số lượng và vị trí của miệng ống tủy của một răng. Vì tất cả các miệng ống tủy chỉ có thể nằm dọc theo đường nối sàn-thành tủy, phải bỏ qua chấm đen, các điểm lồi lõm hoặc chấm trắng có thể quan sát được bất cứ đâu (VD: thành buồng tủy hoặc ở sàn buồng tủy tối màu) để tránh khả năng khoan thủng. Luật định vị ống tủy 2 có thể giúp tập trung vào vị trí chính xác của miệng ống tủy. Các góc hoặc góc độ hình dáng hình học của sàn buồng tủy tối màu sẽ xác định chĩnh xác vị trí của miệng ống. Nếu như ống tủy bị canxi hóa, khi đó vị trí tại góc sẽ chỉ ra nơi đương nhiên nha sĩ phải bắt đầu mở vào với mũi khoan để loại bỏ ngà thứ phát từ phần trên của ống tủy (Hình 20).
Hình 20
Hình 20: Mẫu cắt cho thấy các góc trên sàn buồng tủy.
 Luât định vị miệng ống tủy 1 và 2, kết hợp với Luật thay đổi màu sắc thường chỉ là chỉ thị có thể tin tưởng được về sự có mặt và định vị trí của ống tủy gần ngoài thứ hai của răng hàm lớn hàm trên (Hình 16). Nhìn vào cấu trúc giải phẫu sàn tủy ở Hình 16a. Bên cạnh đường nối sàn-thành tủy, có một góc giữa miệng ống tủy ngoài gần và miệng ống tủy vòm khẩu cái. Luật định vị miệng ống tủy 1 và 2 cho biết sự có mặt của miệng ống tủy ngoài gần thứ 2, được thấy ở Hình 16b.  Miệng ống tủy này, hiện diện đa số răng hàm lớn hàm trên (10), có thể cách miệng ống tủy khác ở bất cứ khoảng cách nào nhưng phải nằm trên đường nối này.
 Luật đối xứng 1 và 2 (trừ các răng hàm lớn hàm trên), thay đổi màu sắc, và định vị miệng ống tủy 1 và 2 có thể áp dụng đối với bất kì răng nào. Chúng đặc biệt có giá trị khi có mặt cấu trúc giải phẫu không mong đợi hoặc bất thường. Chú ý hình vẽ biểu diễn sàn buồng tủy của một răng hàm nhỏ thứ hai hàm trên ở Hình 21a. Nắm được các quy luật giải phẫu sàn buồng tủy dẫn dắt nha sĩ ngay lập tức nhận ra có ba ống tủy trong răng này (Hình 21b).
 Một ví dụ khác về giá trị của cấu trúc giải phẫu sàn buồng tủy có thể thấy ở Hình 22a, hình này thể hiện một răng hàm lớn hàm dưới được cắt ngang mức đường nối men-cement. Sử dụng các luật của giải phẫu sàn buồng tủy, nha sĩ có định hướng nhận ra rằng chỉ có 2 miệng ống tủy ở răng này. Vị trí của chúng được chỉ ra ở Hình 22b. Cần cảnh báo số lượng miệng ống tủy không nhất thiết phải liên quan tới số lượng ống tủy. Thỉnh thoảng có nhiều hơn 1 ống tủy có thể xuất hiện ở trong một 1 miệng ống tủy đơn độc.
                                                                    Hình 21a Hình 21b
Hình 21a, 21b (từ trái qua): Vị trí của miệng ống tủy thứ ba ở răng hàm nhỏ hàm trên sử dụng các luật về giải phẫu
sàn tủy.
 Một ví dụ khác về giá trị của cấu trúc giải phẫu sàn buồng tủy có thể thấy ở Hình 22a, hình này thể hiện một răng hàm lớn hàm dưới được cắt ngang mức đường nối men-cement. Sử dụng các luật của giải phẫu sàn buồng tủy, nha sĩ có định hướng nhận ra rằng chỉ có 2 miệng ống tủy ở răng này. Vị trí của chúng được chỉ ra ở Hình 22b. Cần cảnh báo số lượng miệng ống tủy không nhất thiết phải liên quan tới số lượng ống tủy. Thỉnh thoảng có nhiều hơn 1 ống tủy có thể xuất hiện ở trong một 1 miệng ống tủy đơn độc.
                                                              Hình 22a Hình 22b
Hình 22a,22b (từ trái qua) : Giải phẫu sàn cho thấy 2 miệng ống tủy ở răng hàm lớn hàm dưới.
  Mặc dù đã cố gắng nỗ lực, những vấn đề trong quá trình điều trị có thể xảy ra. Phần tiếp sau đây trình bày các vấn đề phổ biến nhất mà một nha sĩ có thể gặp phải và cách khắc phục chúng.

Khái quát vấn đề-cách giải quyết

Vấn đề: không thể quan sát sàn buồng tủy do chảy máu quá nhiều
Nguyên nhân:
– Điều này thường gây ra do mô tủy trong buồng hoặc ống tủy.
Cách khắc phục:
– Mở tủy rộng bằng cách lấy bỏ trần buồng tủy mà không phạm phải sàn tủy (Không bao giờ chạm sàn buồng tủy trừ khi nhìn thấy được toàn bộ đường nối sàn-thành).
– Đặt chất cầm máu ở buồng tủy.
– Sử dụng trâm gai để lấy sạch mô tủy
Vấn đề: Không thể quan sát được sàn buồng tủy do lấy trần tủy không đủ
Nguyên nhân:
– Chọn điểm mở vào ban đầu không hợp lý.
– Không nhìn được đường nối sàn-thành xung quanh 360 độ.
Khắc phục:
– Trở lại mũi khoan trước đó (tròn hoặc thuôn) và tiếp tục mài dũa cho tới khi nhìn thấy đường nối sàn-thành.
Vấn đề: Không thể quan sát được sàn buồng tủy do vật liệu phục hình ảnh hưởng tới buồng tủy.
Nguyên nhân:
– Không lấy hết toàn bộ vật liệu phục hình trước khi mở tủy (đặc biệt phục hồi xoang V có thể chạm tới sàn buồng tủy).
Cách khắc phục: 
– Lấy bỏ toàn bộ vật liệu phục hình trước khi mở tủy.
Vấn đề: Canxi hóa/sỏi tủy
Nguyên nhân: 
– Thoái hóa tủy
Cách khắc phục: 
– Sau khi lấy bỏ toàn bộ trần buồng tủy và cầm máu, có thể sử dụng mũi khoan tròn mịn (#6) để làm láng sàn buồng tủy giúp lấy bỏ phần canxi hóa và bộc lộ đường nối sàn-thành rõ ràng.
Vấn đề: Không thể quan sát được sàn buồng tủy do thiếu sáng
Nguyên nhân: 
– Mở tủy quá nhỏ.
– Có mặt chụp răng hoặc vật liệu phục hình.
– Bề mặt thành hoặc sàn buồng tủy không láng mịn (thường do mũi khoan tròn quá nhỏ).
Cách khắc phục:
– Mở rộng cho tới khi đường nối sàn-thành tủy có thể nhìn thấy.
– Lấy bỏ vật liệu phục hồi.
– Sử dụng nguồn sáng phụ (đầu đèn LED hoặc kính hiển vi phẫu thuật) khi mở tủy qua chụp.
– Làm láng mịn tất cả các phần không đồng đều trên thành và sàn buồng tủy với mũi khoan trò.
 
Vấn đề: Không thể quan sát sàn buồng tủy do mất định hướng
Nguyên nhân: 
– Sử dụng mặt nhai như một điểm tham chiếu.
– Thất bại trong việc quan sát hướng răng do răng xoay hoặc răng bị nghiêng.
– Mất dấu hiệu của chu vi đường nối men-cement.
– Góc độ mở tủy ban đầu sai.
Cách khắc phục:
– Quan sát hướng răng trước khi mở tủy đúng.
– Mường tượng đường nối men-cement đúng
– Lấy bỏ đê cao su trong quá trình mở tủy để xác định lại hướng răng.
– Góc độ mũi khoan mở tủy ban đầu hợp lý.
Vấn đề: Thủng sàn.
Nguyên nhân: 
– Hấp tấp trong quá trình xác định miệng ống tủy.
– Thất bại khi đo khoảng cách mặt nhai-chẽ răng.
– Xác định sai đường nối sàn-thành tủy.
– Mở tủy không đủ.
Cách khắc phục:
– Lấy bỏ phần trần tủy còn lại trước khi định vị miệng ống tủy.
– Quan sát đường nối sàn-thành 360 độ xung quanh.
– Đặt chiều dài mũi khoan ngắn hơn khoảng cách mặt nhai-chẽ răng.
– Đặt mũi khoan mở vào trực tiếp hướng tới trung tâm của chu vi đường nối men-cement.
Vấn đề: Thủng thành bên
Nguyên nhân:
– Thất bại trong việc tưởng tượng đường nối men-cement.
– Đường vào mở tủy không đúng.
– Sử dụng cấu trúc giải phẫu mặt nhai để bắt đầu mở tủy.
Cách khắc phục:
– Lấy bỏ phần trần tủy còn lại trước khi định vị miệng ống tủy.
– Quan sát đường nối sàn-thành 360 độ xung quanh.
– Đặt mũi khoan mở vào trực tiếp hướng tới trung tâm của chu vi đường nối men-cement.
– Sử dụng điểm mở vào ban đầu dựa trên hình dung chu vi đường nối men-cement.
Vấn đề: Không thể xác định tất cả các miệng ống tủy.
Nguyên nhân:
– Thất bại trong hoàn thiện mở tủy.
– Bộc lộ thiếu đường nối sàn-thành tủ.y
– Hiện diện của vật liệu phục hình.
– Hiện diện của canxi hóa.
Cách khắc phục:
– Chắc chắn mở tủy hoàn thiện.
– Làm láng mịn sàn buồng tủy để loại bỏ canxi hóa và bộc lộ đường nối men-cement.
– Sử dụng luật giải phẫu sàn buồng tủy để xác định vị trí miệng ống tủy.
Tổng kết
Để tăng tỉ lệ thành công trong điều trị nội nha, cần loại bỏ càng nhiều phức hợp tủy càng tốt. Để đạt được điều này, phải tìm thấy tất cả các miệng ống tủy ở buồng tủy. Sử dụng các luật của giải phẫu sàn buồng tủy là cách duy nhất hợp lý để đạt được điều này. Cách duy nhất để sử dụng các luật này là mở tủy đủ cho phép quan sát được các thành tủy gặp sàn tủy 360 độ xung quanh. Newsletter này trình bày và cung cấp các giải pháp cho tất cả các tình huống lâm sàng có thể cản trở quan sát. Thêm vào đó, chúng tôi trình bày bảng khái quát vấn đề-cách khắc phục và thêm vào tất cả các khó khăn trong quá trình mở tủy và định vị miệng ống tủy mà nha sĩ tổng quát có thể đối mặt.
Tài liệu tham khảo
Xem trong văn bản gốc
https://www.aae.org/uploadedfiles/publications_and_research/endodontics_colleagues_for_excellence_newsletter/ecfespring2010_final.pdf

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *